CN IV MC/ A: Bài đọc 1 : (1Sm 16: 6-7,10-13). Bài đọc 2 : (Ep. 5: 8-14). Tin Mừng : (Ga. 9: 1-41)

Bị ném đá, Chúa Giêsu lánh đi và ra khỏi Đền Thờ. Dọc đường, thấy một người mù bẩm sinh, Ngài dừng lại, nhổ nước miếng xuống đất, trộn thành bùn và xức vào mắt người mù, rồi bảo anh ta: “Anh hãy đến hồ Silôác mà rửa”. Anh ta làm như vậy và khi về thì nhìn thấy được.

Chúa Giêsu đã chữa khỏi mù cho bao nhiêu người? Chỉ có một người mù từ khi mới sinh! Không. Ngài đã chữa khỏi mù không phải một, nhưng là hai người.

Người mù đầu tiên là người mù bẩm sinh. Người ta cứ nghĩ : mù là do tội của đương sự hay của cha mẹ. Mù là một hình phạt ư ?  Và Chúa đã xác định : “ Không phải y cũng không phải cha mẹ y đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa được tỏ ra nơi y.”

Người mù bẩm sinh khác với người mù thứ phát, tức mù do tai nạn…Người mù bẩm sinh chắc không biết thế nào là màu sắc xanh-đỏ, cũng không phân biệt được ánh sáng và bóng tối. Người mù nhận thức được thế giới khách quan nhờ hướng dẫn, chỉ dạy, và ngày nay nhờ phát minh chữ nổi nên họ trao đổi được ít nhiều với thế giới bên ngoài; nhưng những nhận thức của họ ít nhiều bị hạn chế. Cứ xem mấy ông thầy bói mù đi xem voi thì biết. Ông sờ cái đuôi voi thì bảo là cái chổi, ông ôm lấy chân voi, lại bảo cái cột nhà, còn ông sờ thấy tai voi phe phẩy, lại bảo là cái quạt. Thật đáng thương!

Thế nhưng có những người có đôi mắt tinh thường, nhìn thấy đuôi voi lại cứ quả quyết là cái chổi, thấy chân voi lại cứ nhất định là cột nhà và thấy tai voi lại khăng khăng bảo là cái quạt. Họ là ai?

Chúa Giêsu đã chữa lành cho người mù bẩm sinh. Trước những bằng chứng rõ ràng như thế, nhưng người ta vẫn không tin, vẫn nghi ngờ và sinh chia rẽ: ” Ông ta không phải là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày sabát”. ” Một người tội lỗi sao có thể làm được những dấu lạ như thế được?”

Một con trai thấy một viên ngọc bong ra, rơi vào khe nứt của một tảng đá dưới biển. Sau nhiều cố gắng, nó lấy lại được viên ngọc và đem đặt trên một chiếc lá bên cạnh. Nó biết rằng có nhiều người chuyên lùng tìm ngọc dưới đại dương, vì thế nó nghĩ: ” Viên ngọc này sẽ thu hút sự chú ý của những người đi tìm ngọc. Họ sẽ lấy viên ngọc, và sẽ quên không tóm cổ mình.”

Thế nhưng khi người thợ lặn mò ngọc trai xuất hiện, đôi mắt anh ta chỉ đảo qua đảo lại để tìm những con trai chứ không để ý gì đến viên ngọc nằm trên phiến lá. Anh thợ lăn tóm lấy con trai không có viên ngọc nào trong mình nó, còn viên ngọc thì rơi trở lại vào khe đá.

Họ mù do đâu? Do thành kiến, do xét đóan, kiêu căng, ích kỷ, do gian dâm, ô uế, tham lam.. Họ đổi trắng thay đen,  biến sai thành đúng ( Ep,5:4-6). Ngay như việc Chúa chữa lành người mù ngay trước mặt họ, thế mà họ vẫn cố tình không muốn tin, lại chối từ sự thật. Họ câu nệ về hình thức hơn nội dung. Thay vì lề luật là phương tiện để đạt đến cứu cánh, thì họ lại lấy phương tiện làm cứu cánh: “Chúng ta là môn đệ của ông Môsê. Chúng ta biết Thiên Chúa đã nói với ông Môsê, nhưng chúng ta không biết ông ấy bởi đâu mà đến.” Cật vấn hết người mù lại chất vấn thêm cha mẹ để cố moi cho được những gì có thể đập đổ chân lý, còn người mù vẫn một mực tôn vinh Đấng đã chữa lành cho mình; anh bị người ta xem như là người tội lỗi: “Mày sinh ra tội lỗi ngập đầu, thế mà mầy lại muốn làm thầy chúng ta ư?” và họ đã trục xuất anh khỏi hội đường.

Một tội nhân công khai bị tuyệt thông. Anh bị cấm không được vào nhà thờ. Anh than thở nỗi buồn của mình với Chúa: ” Lạy Chúa, người ta không cho con vào, vì con là một tội nhân.” Chúa trả lời: ” Đừng phàn nàn con ạ. Họ cũng đâu có cho Ta vào”.

Đó là người mù thứ hai: Họ sáng mắt, nhưng không sáng lòng; họ mù tâm linh, mù tinh thần.

Ngược lại, người mù được chữa lành, khi được người ta hỏi: ” Còn anh, anh nghĩ gì về người đã mở mắt cho anh? ” Anh đã trả lời: ” Người là một vị ngôn sứ”. Anh đã tuyên xưng đức tin: ” Chúng ta biết: Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi; còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời người ấy”. Sau khi bị trục xuất, gặp lại anh, Chúa hỏi: ” Anh có tin vào Con Người không?” Khi biết Đấng ấy là người đang nói với anh, anh đã tuyên xưng: “Thưa Ngài, tôi tin.”

Từ những chất liệu của miệng : nước bọt và lời nói, Chúa đã chữa lành hai hạng người mù. Với người mù bẩm sinh thì Chúa chỉ cần dùng nước bọt là xong; nhưng với người sáng mà mù thì Chúa lại dùng Lời hằng sống để chữa trị: ” Ta đã đến thế gian hầu những kẻ không xem thấy, thì được xem thấy, và những kẻ xem thấy, sẽ trở nên mù”(Ga 9:39). Chúng ta không gặp Chúa, vì chúng ta không biết phải tìm Ngài ở đâu.

Người ta nhìn anh mù như là một tội nhân không đáng để được chữa lành, nhưng với Thiên Chúa thì: “ Không phải y cũng không phải cha mẹ y đã phạm tội, nhưng để công việc của Thiên Chúa được tỏ ra nơi y.” Công việc của Thiên Chúa được tỏ hiện không những ở việc chữa người mù được xem thấy, nghiã là bề ngoài, mà còn ở tận đáy sâu của tâm can con người như lời Chúa phán cùng ông Samuel: “ Ta không xem xét theo kiểu con người, vì chưng con người  nhìn xem bên ngoài, còn Thiên Chúa thì nhìn xem tâm hồn.”  Trong số bảy anh em nhà Isai, Chúa đã chọn đứa con út có mái tóc hoe, có đôi mắt và gương mặt xinh đẹp đang đi chăn chiên ngoài đồng. Công việc của Thiên Chúa là thế đó, khác với dự đoán và toan tính của con người.

Như lời thánh Phaolô đã viết cho tín hữu Êphêxô: “Xưa anh em là bóng tối, nhưng bây giờ, trong Chúa, anh em lại là ánh sáng.” Chúng ta phải “ăn ở như con cái ánh sáng, đừng cộng tác vào những công việc vô ích của con cái bóng tối”( Ep 5:8), để khỏi tái mù và bị xét xử như lời Chúa đã nói:” Tôi đến thế gian này chính là để xét xử: cho người không xem thấy được thấy và kẻ xem thấy lại nên đui mù.”và ” Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: ‘ Chúng tôi thấy’, nên tội các ông vẫn còn.”

Như người mù được chữa lành đã mạnh dạn tuyên xưng đức tin trước mặt mọi người, chúng ta cũng phải trở nên những Silôác của  Thiên Chúa.